Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

ĐẶC SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Trần Đình Hượu

1.
Trong lịch sử của ta có hiện tượng các phương thức sản xuất không đầy đủ, không thay thế nhau bằng cách cái sau phủ định cái trước. Những tàn dư của xã hội nguyên thủy (như ruộng công làng xã), của một chế độ nô lệ không điển hình (như nô tì công và tư), của một chế độ phong kiến phân tán chưa thành hình (như các hào trưởng, hào cường), một chế độ phong kiến tập trung quá sớm nhưng không trọn vẹn vì thiếu kinh tế đô thị, tồn tại song song, đan chéo vào nhau như một dạng trầm tích. Cho nên trong tư tưởng cũng có dạng trầm tích như vậy. Nhưng nước ta lại sớm thống nhất, thống nhất dưới hình thức quận huyện của chính quyền đô hộ rồi thống nhất thành quốc gia độc lập tạo ra điều kiện để dân tộc hình thành sớm. Cho nên ý thức hệ cũng có dạng thống nhất. Sự thống nhất ở đây được thực hiện đơn giản bằng cách kết hợp tư tưởng bản địa với tư tưởng Tam giáo, Âm dương, Ngũ hành và các yếu tố khác.

Chùa một cột
2.
Tôi cho rằng Nho giáo là xương sống của khối liên kết đó. Rõ ràng là trong cái toàn thể mà ta hình dung thì Nho giáo là một phần trong nhiều phần, thế nhưng nó là bộ phận then chốt, quy định sự chọn lọc, sự sắp xếp vì nó là học thuyết thống trị, và hơn thế, nó thích hợp với cơ chế chính trị - kinh tế - xã hội.

3.
Các vị anh quân và cả những nhà yêu nước lớn như Nguyễn Trãi chăm lo, phát triển Nho giáo học, xây dựng Tư văn, tổ chức học hành thi cử, lo biên soạn quốc sử, khuyến khích văn học... đều theo lời khuyên của thánh hiền, đều theo trị đạo của Nho giáo.

4.
Ta thường hiểu Nho giáo đơn giản, phiến diện, sách vở, coi nó chỉ là ngoại lai, theo quân xâm lược phương Bắc vào, phục vụ cho chế độ phong kiến... dường như nó là công cụ xâm lược, là chỉ có sức hấp dẫn những giai cấp thống trị cũ mà không thấy Nho giáo rất thích hợp với cuộc sống hẹp, tự nhiên, đóng kín gia đình, họ hàng làng xã, rất thích hợp với nông thôn, với nền sản xuất của hộ tiểu nông. Một cuộc sống có trên, có dưới, có tình anh em bà con, láng giềng, cô bác kiểu gia đình êm ấm từ trong nhà cho ra đến làng, đến nước ; một cuộc sống thái bình ổn định, an cư lạc nghiệp vốn rất hợp với lòng mong mỏi của nông dân...

5.
Xã hội bình trị được đạt đến bằng lễ. Một thứ hoà mục làm mọi người vui vẻ, một tình cảm êm đềm đằm thắm làm cảm hoá cả thiên nhiên đến hết cả thiên tai hạn hán, làm xúc động tình cảm, đi vào âm nhạc thành tiếng hoà vui của câu ca, tiếng hát, đi vào nghi lễ thành cái khoan hoà tiết tấu của hành vi cử chỉ.

6.
Ðạo đức Nho giáo là đạo đức của con người hình dung mình sống trong gia đình, gia tộc, làng xóm, nước, thiên hạ, trời đất, một thế giới gồm những cộng đồng từ nhỏ đến lớn hình dung theo mô hình gia đình mở rộng. Không chỉ thiên hạ bình mà thiên địa vị, vạn vật dục, khí hoà tràn đầy khắp trời đất.

7.
Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ... phát triển rất cao ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó. Ở ta thần thoại không phong phú - hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lí. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì lại không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng cũng chưa bao giờ tôn ai là thi bá, và bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thi ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.

8.
Hoàn cảnh dẫn ta đi theo con đường tiếp nhận, bắt chúng ta chỉ được nghĩ những chuyện thực tế, dạy chúng ta cách ứng dụng nhanh chóng cái học được để ứng phó. Nhằm mục đích thực tế, cha ông chúng ta đã lựa chọn những cái đã có sẵn, chấp nhận nó, không tính cả chuyện những cái đó hoà hợp hay chống đối nhau, nhưng lại biết cách sử dụng cho có ích không gây ra chống đối. Ðối với thực tế mà nhu cầu đặt ra chỉ như vậy kho Kinh, Tạng của Tam giáo Trung Quốc là quá dư thừa, thậm chí là quá mênh mông, ít ai có điều kiện học đủ.

9.
Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình. Những cái thô dã, những cái hung bạo đã bị xoá bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn để tìm được sự bình ổn.

10.
Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình hợp lí. Áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải.

11.
Văn hoá truyền thống của ta là tốt đẹp. Và trong tương lai, biết đâu cái màu sắc dịu dàng, tươi mát, cái không khí thanh bình của nó lại không phải là nơi cần tìm đến trong cuộc sống căng thẳng của nền sản xuất hiện đại?

12.
Lược bỏ cũng có nghĩa là đơn giản hoá, sơ lược hoá. Thế nhưng làm như thế mà giảm bớt đi được những cái tế toái, cứng nhắc, những cái trái tự nhiên, trái nhân đạo, vốn có nhiều trong cách giải thích kinh điển Trung Quốc thì không phải là dở. Sự linh hoạt - không biết nên giải thích là tinh thần trung dung của Nho giáo, tinh thần nhu đạo, bất tranh của Lão - Trang, tinh thần hỉ xả, từ bi của Phật hay chỉ là tập quán chín bỏ làm mười bản địa - tất nhiên là hạn chế lớn cho cách tư duy chính xác, hệ thống, nhất quán cần thiết để tìm chân lí, để có tư duy khoa học, triết học. Nhưng trong điều kiện nhu cầu đơn giản, hoàn cảnh căng thẳng thì như vậy thường lại có hiệu quả.

13.
Trong lịch sử học thuật của ta không có những nhà kinh học để cả cuộc đời tra cứu, biện bác làm sáng tỏ nghĩa kinh điển mà cũng không có những nhà tư tưởng nhìn tổng quát cả học thuật quá khứ để phê phán, đề xuất kiến giải riêng. Những người lỗi lạc, có tinh thần tự hào dân tộc đều muốn phát triển Tư văn ở Việt Nam bằng cách đi theo và tiến kịp không thua Trung Quốc chứ không phải phê phán nó để tìm cái của mình.

14.
Trong một xã hội mà quan tâm hàng đầu là giữ gìn sự ổn định, sự nhất trí đề phòng giặc ngoài xâm lược, với một thể chế mà làng xã là thành lũy, với một nền sản xuất mà năng suất dựa vào kinh nghiệm, sự cần cù, bàn tay khéo léo thì kĩ thuật không đòi hỏi nhiều khoa học, khoa học không cần nhiều triết học. Nếu có những thời điểm mà có thể nói là nóng bỏng, xuất hiện những nguy cơ xã hội như thế kỉ XIV, XVI, XVIII còn lại vang bóng trong văn học thì cũng cũng không có điều kiện gì để nhìn thế giới theo một cách khác. Với nhu cầu và điều kiện như thế đặt ra làm gì và ai đặt ra được vấn đề quan niệm thế giới theo một cách khác?

15.
Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, có ma quỷ, Thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cho cháu hơn là cho linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người. Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ. Ðâu đâu cũng có đền thờ những người có công đức - chủ yếu là có công chống ngoại xâm - nhưng không một anh hùng xuất chúng, một võ sĩ cao cường nào được lưu danh. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Ðối với cái dị kỉ, cái mới, không dễ hoà hợp nhưng cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

16.
Hiểu đúng cha ông là để khai thông cách suy nghĩ của người Việt Nam ngày nay, để dễ tiếp cận với triết học hiện đại. Khuynh hướng «thiết thực» dễ làm nghiêng về duy vật hơn là duy tâm, biện chứng hơn là siêu hình, song duy vật thô sơ, biện chứng tự phát (sự chiêm nghiệm trực quan trong tục ngữ của ta). Người vận dụng tha hồ tùy tiện bàn chuyện của mọi phạm vi lớn nhỏ (với trình độ hỗn tạp, chất phác). Do đó tư tưởng của ta vừa xa lạ cái thần bí, vừa xa lạ cái duy lí.

17.
Ở phương Tây vấn đề Thượng đế sáng tạo thế giới và quyết định mọi việc được tôn giáo khắc sâu vào tư tưởng, đè nặng lên con người, thành hòn đá lấp lối mọi tự do. Cho nên quá trình duy tâm triết học hoá Thượng đế, hay duy vật phủ nhận sự sáng tạo thế giới đã cắm những cái mốc cho việc mở rộng vương quốc của tự do, cho giải phóng con người, tìm ra bản nguyên thế giới... Phương Ðông cũng có ý niệm Thiên Mệnh, Trời, khuyên kính Trời, yên Mệnh. Song mối quan tâm chính là tu dưỡng đạo đức, trị nước nên con người «kính quỷ thần nhi viễn chi». Khuynh hướng «thiết thực» này (nghĩa vụ làm người, làm dân) dồn cả Trời và Mệnh vào một góc: Trời và Mệnh chỉ còn ý nghĩa bảo vệ quyền làm vua của một dòng họ, quyền hưởng phú quý cho kẻ giàu sang. Thói quen gạt bỏ những cái «xa vời», khó hiểu, xa lánh quỷ thần, không quan tâm đến thế giới linh thiêng làm cho con người không bỏ mê tín song cũng không hứng thú cái thần bí, không tò mò và ít hoài nghi, không say mê tìm hiểu những cái chưa biết, gạt bỏ những cái khác lạ. Chính vấn đề Tâm - Vật, và trước kia là vấn đề Lý - Khí cũng thuộc loại bị gạt ra ngoài như vậy.

18.
Nho giáo tự chọn thái độ «trung dung», đứng ở chỗ «đúng mức» nhất, coi ai cũng có nhược điểm «quá» và «bất cập» - ở mặt này hay mặt kia - tức ở những chỗ không thích hợp của cái đó với thể chế xã hội có sẵn (chế độ chuyên chế - tông tộc), ví dụ như chê Mặc vô phụ, chê Dương vô quân, chê Phật không quân thần phụ tử, chê tư tưởng phương Tây quá chú ý vật chất... Tức các học thuyết khác cũng có chỗ «khả thủ», có thể lấy được, chấp nhận được, lúc ở thế bí thì nó «lấy», vay mượn, bổ sung cho mình, ví dụ đối với phương Tây thì «Ðông học vi thế - Tây học vi dụng». Trong xã hội Nho giáo hoá cái mới bị cô lập, dần dần tha hoá và bị rút tỉa, bị Nho giáo nuốt mất trong đó cái khả thủ. Ở Việt Nam từ thế kỉ XVII đã có sự tiếp xúc Ðông - Tây ở cả Ðằng Ngoài lẫn Ðàng Trong; các chúa Trịnh - Nguyễn sớm nhận ra sự lợi hại của tàu và súng phương Tây, song tư tưởng phương Tây thì không thể nào bám rễ. Ở Trung Quốc chủ nghĩa Mao đã hình thành trong chính cái thế, trong cung cách Nho giáo nuốt học thuyết Mác, lấy cái khả thủ.

19.
Hán hoá đã thành một xu thế, một thực tế lâu dài trong lịch sử. Xu thế, thực tế đó làm cho nước ta, cũng như Trung Quốc, ở những thế kỉ cuối rơi vào tình trạng trì trệ. Phi Hán hoá không phải đã là một xu thế mạnh mẽ trong quá khứ mà là một yêu cầu cấp thiết của ngày nay đòi hỏi tự ý thức, tự phê phán để giải phóng tư tưởng, để hiện đại hoá đất nước.

20.
Chúng ta đào tạo đội ngũ khoa học, kĩ thuật đông đảo. Nhưng trong điều kiện kinh tế phát triển còn thấp, không có đủ cơ sở để sử dụng thì kĩ sư không phải là người hành nghề mà thành cán bộ, sống bằng bằng cấp và danh vị... Thanh niên và các bậc phụ huynh lại toan tính con đường chắc chắn: học cho có bằng cấp, vào biên chế sống dựa vào nhà nước kiếm lộc, kiếm bổng. Chuẩn bị vào đời bằng trau dồi «tư cách» (đánh giá về đạo đức, vốn hoạt động chính trị) và bằng bằng cấp chứ không phải bằng nghề nghiệp tự lập.

21.
Những con người, ông già và thanh niên, giống như những nhà nho xưa trà lá, lề mề và hay nói suông, thiếu khả năng và quả quyết hành động thực tế, đầy thiện chí thương dân, yêu nước mà cũng đầy ảo tưởng; theo ảo tưởng nên tính toán sai, đầy thiện chí nên tự tin, cố chấp không những gây ra lùng nhùng mà giẫy dụa trong lưới lùng nhùng.

22.
Cái đáng phê phán ở Nho giáo là sự ngu trung với vua hay là ảo tưởng bình trị dưới chế độ chuyên chế?

23.
Nho giáo bồi dưỡng nên một nhân vật văn hoá là nhà nho, với hình ảnh cụ thể là ông thầy đồ, chăm lo học hành, coi trọng văn hoá, văn chương nhưng không phải là người làm học thuật, người làm khoa học, người làm kĩ thuật, người làm nghệ thuật mà chỉ là người noi gương thánh hiền, giữ đạo đức đến sống gò bó, ngụy thiện, lo học thuộc sách vở, mở miệng là lời kinh sử, lấy nó bàn suông mọi chuyện trên đời.

24.
Nhà nho không phải là người tìm tòi khoa học kĩ thuật, vốn gắn liền với sản xuất, mà chỉ có chức năng giáo hoá, giữ sự yên ổn (đức trị - hoà mục). Một chế độ phi sản xuất, phi kinh doanh, chỉ sống bằng tô thuế, cần giữ yên chứ không phát triển thì nho thần lừng khừng cũng được việc.

25.
Chỉ có những gia đình lớn nhỏ chứ không có xã hội, nhà nước. Không có con người mà cũng không có công dân. Mọi người chỉ lo xử lí các quan hệ người trên và người dưới, tìm sự hoà thuận êm ấm, không hướng con người vào việc tìm tự do và hạnh phúc trong việc cải tiến tổ chức xã hội và làm chủ các lực lượng tự nhiên.

26.
Nho giáo không bao giờ nhận giao tranh trước những địch thủ mạnh hơn, mà rút lui một cách ung dung, kiêu hãnh về với cuộc sống thôn dã, về với làng xã gia đình, về tâm giới.

27.
Danh vị, phận vị khiến người ta quy cái bất công do Trời, do Mệnh, triệt tiêu mọi lí do hành động chống đối. Ðó cũng là lí do của ảo tưởng về nhân cách, che lấp thực trạng mất nhân phẩm.

28.
Ta nên phát huy khả năng truyền thống du nhập và linh hoạt ứng dụng để nhanh chóng có cái hiện đại, hay tìm tòi từ đặc sắc dân tộc cái của mình?

29.
Cái hiện đại, cái thế giới cũng không phải là hay cả, nhưng nếu dùng dân tộc đóng cửa chính lại thì cái dở nhất của nó sẽ chui vào cửa sổ.

30.
Hiểu đặc sắc văn hoá dân tộc còn là giải phóng cho sức sáng tạo, nói đúng hơn là tìm phương thức vun xới cho sức sáng tạo. Trong nền văn hoá cũ, sức sáng tạo của ta không khỏi có khuynh hướng tiểu kĩ, ứng dụng, thiếu những sáng tạo lớn. Ðó là con đẻ của tinh thần thiết thực. Trong tương lai đó là một nhược điểm. Ðổi thay được nhược điểm đó chắc chắn không phải là dễ dàng. Cũng khó mà kế hoạch hoá việc sáng tạo. Ta chỉ có thể chờ đợi điều đó ở những nhà tư tưởng, những nghệ sĩ, và ở nền sản xuất, tổ chức xã hội có khả năng sản sinh ra họ.
Nguồn trích: http://huc.edu.vn/chi-tiet/451/.html

GIAO TIẾP TRONG NHÀ TRƯỜNG

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ
GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG NHÀ TRƯỜNG [1]
Th.s  Trần Đình Thích
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Không gian văn hóa học đường vốn là không gian văn hóa trong lành, đẹp đẽ, ấy vậy mà lâu nay đang bị ô nhiễm, bị vẩn đục bởi những vết nhơ được thải ra từ một số phần tử thoái hóa phát sinh chính ngay trong nhà trường. Chúng ta vẫn chưa hết bàng hoàng khi chứng kiến cảnh sinh viên xông thẳng vào văn phòng bộ môn ngoại ngữ Đại học Cần Thơ rượt đuổi đâm chém thầy cô. Rồi lại phải đau lòng trước cảnh sinh  viên tạt cả thau a xít vào người thầy giáo ngay trên bục giảng tại trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh cách đây không lâu. Những chuyện “động trời” ấy đã làm cho truyền thống “Tôn sư trọng đạo”cao quí của dân tộc bị tổn thương nghiêm trọng. Nỗi đau này không của riêng ai, nhưng đặc biệt với những người làm công tác trong ngành giáo dục và đào tạo thì lại càng nhức nhối hơn. Hơn bao giờ hết, vấn đề kỉ cương, tình thương, trách nhiệm trong nhà trường càng phải được đặc biệt coi trọng và quan tâm đúng mức. Trước “những điều trông thấy mà đau đớn lòng ấy” chúng tôi xin bày tỏ : Đôi điều suy nghĩ về giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường.
II. NỘI DUNG
1. Khái niệm văn hóa giao tiếp, đạo đức học đường, văn hóa học đường.
Tìm ra một định nghĩa minh bạch cho một khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội& nhân văn quả là rất khó. Ở đây chỉ có thể đưa ra cái gọi là định nghĩa ấy thay bằng quan niệm của mỗi người.
- Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử…
- Đạo đức học đường là một khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nhằm hướng đến việc giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm trong sáng, tốt đẹp cho HS trong nhà trường, hướng đến những giá trị nhân văn cao quí của con người: (Tình nghìa thầy- trò: “Tôn sư trọng đạo”,Tiên học lễ, hậu học văn”, tình nghĩa gia đình: “Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, tình cảm bạn bè, tình người trong cuộc sống “Lá lành đùm lá rách. Thương người như thể thương thân”…)
- Văn hóa học đường là không gian văn hóa bao trùm toàn bộ mọi hoạt động phong phú, đa dạng trong nhà trường.( hoạt động dạy- học, các sinh hoạt vui chơi, giải trí…) Tất cả mọi hoạt động đều đảm bảo những chuẩn mực văn hóa trong nhà trường.
Văn hóa giao tiếp, đạo đức học đường là những bộ phận trong văn hóa học đường. Giữa các bộ phận đều có quan hệ gắn bó với nhau.
2. Mục tiêu của giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường.
Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường nhằm hướng tới các mục đích là:
- Giúp cho mọi thế hệ học sinh (HS), sinh viên (SV) có được nhận thức đúng để có hành vi đẹp về ứng xử, giao tiếp với nhau trong học tập, sinh hoạt ở tất cả mọi môi trường xã hội khác nhau. Thông qua văn hóa giao tiếp giúp cho mỗi người gần gũi thân thiện, hòa hợp với nhau, có sự đồng cảm, chia sẻ, từ đó làm cho quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn “Người yêu người sống để yêu nhau” (Tố Hữu) và nâng cao được ý thức cộng đồng cho mỗi người.
- Đích cuối cùng là phải làm cho văn hóa học đường thật sự tốt đẹp, xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, trong sáng, đẹp đẽ, đầy tính nhân văn, có sức cảm hóa, sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội, từ đó góp phần hình thành, phát triển nhân cách con người mới XHCN Việt Nam.
3. Văn hóa giao tiếp từ truyền thống đến hiện đại.
3.1. Từ truyền thống.
Văn hóa giao tiếp truyền thống của chúng ta được chảy từ trong nguồn mạch của gốc văn hóa nông nghiệp trọng tình, vì vậy trong giao tiếp, cũng như trong cách ứng xử, xưa cũng như nay chúng ta luôn lấy chữ tình, chữ nghĩa làm trọng, xem “lời chào cao hơn mâm cỗ”. Điều này thể hiện rõ ràng, dứt khoát quan niệm của ông bà ta xưa là rất coi trọng văn hóa giao tiếp bởi đó là nhu cầu không thể thiếu với mỗi người.Trong cuộc sống, mỗi người cần đến sự quan tâm, thăm hỏi, động viên nhau, đến với nhau vì tình, vì nghĩa và để thắt chặt thêm, gắn bó hơn quan hệ tình cảm. Trong giao tiếp thể hiện thái độ trọng thị, chân thành. Coi trọng phép tắc nhưng không nghi lễ, hình thức rờm rà. Điều đó cho thấy được bản chất tốt đẹp trong văn hóa giao tiếp của chúng ta. Chính nhờ bản chất đó mà đã nuôi dưỡng được những giá trị tinh thần cao quí trong tâm hồn mỗi người Việt Nam chân chính.  Có những khái niệm xưa nhưng không vẫn rất quen thuộc với khẩu vị của người Việt Nam chúng ta như: Thuần phong, mĩ tục; tiên học lễ, hậu học văn; lời chào cao hơn mâm cỗ; tôn sư trọng đạo; công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy…Đó là những khái niệm chứa đựng những giá trị văn hóa, nhân văn cao quí luôn được mọi người coi trọng và ra sức gìn giữ, phát triển.
3.2. Đến hiện đại.
Nhìn chung, những giá trị văn hóa truyền thống cho đến nay cơ bản vẫn còn được lưu giữ và tiếp tục phát triển. Tuy nhiên trong thời đại ngày nay do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cho nên đã làm cho một số giá trị văn hóa truyền thống bị phai nhạt, thậm chí bị rạn nứt, đổ vỡ. Trong phạm vi nhà trường có những vấn đề không chỉ làm đau lòng người trong cuộc mà còn gây nỗi bất bình, lo lắng cho cả xã hội. Mọi người chắc phải rùng mình và hết sức kinh ngạc khi chứng kiến hoặc hay tin cảnh SV cầm dao rượt đuổi, đâm chém thầy, cô tại văn phòng, rồi cảnh SV đang tâm tạt a xít vào mặt thầy giáo ngay trên bục giảng. Thật đau xót và khó hiểu nổi với cách ứng xử đầy tính bạo lực theo kiểu xã hội đen của một số phần tử SV có chữthiếu nghĩa ấy trong mái trường Đại học. Ngược lại cũng không phải ít những trường hợp thầy, cô giáo có những cách hành xử phản giáo dục đối với HS như bán điểm mua tình hay những hình phạt quá khắt khe…. Chỉ mới đơn cử vài trong muôn vàn trường hợp tiêu cực đa dạng từ trước tới nay ở trong phạm vi trường học để thấy rằng tình hình đạo đức văn hóa học đường đang có vấn đề và cần phải tìm ra nguyên nhân “bệnh hoạn” để có phương pháp chữa trị.
Mọi thiếu sót, yêú kém hay sai phạm trong lĩnh vực nào cũng đều có nguyên nhân chủ quan và khách quan.
* Về khách quan: Cũng như mọi lĩnh vực khác trong xã hội, văn hóa học đường cũng bị chi phối bởi những qui luật phát triển của thời đại. Người ta thường qui về một số nguyên nhân chủ yếu như: do mặt trái của kinh tế thị trường, do tác động của khoa học công nghệ, do văn hóa phẩm không lành mạnh, do chủ nghĩa thực dụng phương tây…Rõ ràng tất cả những do “của lạ” ấy đều có sức hấp dẫn, có sức lôi kéo đối với mọi người, nhất là đối với giới trẻ, đối với những người thiếu bản lĩnh. Nếu không có sức đề kháng tốt thì việc bị “vi rút” độc hại xâm nhập, gây bệnh hoạn, tàn phá cơ thể là điều hiển nhiên.
* Về chủ quan: Nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta không ngần ngại nói rằng do nhận thức vấn đề chưa đúng, do chưa được mọi người quan tâm đúng mức nên ý thức xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp, đạo đức học đường, văn hóa học đường chưa cao.Vấn đề tổ chức, quản lí, giáo dục chưa tốt. Nhà trường rất coi trọng việc trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà lại quá xem nhẹ thậm chí bỏ qua việc giáo dục văn hóa học đường.
Thực tế cho thấy, lâu nay chúng ta rất coi trọng và chừng mực nào đấy đã làm tốt việc dạy chữ, nhưng việc dạy người là chưa tốt. Hậu quả của việc dạy người chưa tốt ấy là những chuyện phi giáo dục đã được các phương tiện thông tin đại chúng nêu rõ, thật đáng buồn, đáng lo. Trong các nhà trường từ phổ thông đến đại học, thử hỏi đã có trường nào thực hiện tốt khẩu hiệu, cũng là phương châm giáo dục mà tiền nhân đã nêu ra từ xưa, mới đây lại được ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến nghị trong dịp khai giảng năm học 2009- 2010 là “Tiên học lễ, hậu học văn”.Thử hỏi chúng ta đã thực sự coi trọng và làm tốt học lễ trước rồi mới học văn hay đã làm ngược lại. Vấn đề “tiên học lễ” đã  bị xem nhẹ, thậm chí có nơi, có lúc vô tình bị lãng quên. Hình như có nhận thức “Tiên học lễ” là dành cho các bậc học ở mẫu giáo, phổ thông còn lên đến bậc cao đẳng, đại học thì xem như đã hoàn thành chương trình học lễ nên chỉ tập trung cho việc học văn.(kiến thức thuần túy) Bởi vậy khẩu hiệu “ Tiên học lễ, hậu học văn” đã được các lớp đàn anh “ưu tiên, nhường” hết cả cho các lớp đàn em. Chính sự nhường nhịn ấy mà các anh không được bồi dưỡng thành ra trở nên bệnh hoạn. Rõ ràng những ca bệnh trọng, nguy hiểm gây lo ngại cho xã hội là từ các anh vốn tự cho là đã được “miễn dịch”.
Hậu quả của việc quá coi trọng kiến thức, nhẹ đạo nghĩa cho nên con người thiếu hàng loạt những phẩm chất làm người, thiếu cảm xúc, thờ ơ lạnh nhạt trước nỗi bất hạnh của người khác, thiếu dũng khí đấu tranh trước mọi bất công, nhìn đời bằng con mắt vị lợi. Vì thế để đạt được mục đích riêng của mình, họ đã bằng mọi cách, mọi giá, sẵn sàng hành động một cách liều lĩnh, mặc dù biết đó là những việc làm sai trái, vi phạm đạo đức, pháp luật. Trong nhà trường tại sao lại xảy ra nào là những chuyện bạo lực, chuyện gian dối trong thi cử, chuyện bằng thật, học giả, chuyện đua nhau mở các trường đại học khi chưa có đủ điều kiện, hay là hình thức kinh doanh và bệnh thành tích trong giáo dục…? Lỗi đã rõ. Có lỗi bề nổi dễ xác định sự việc, con người. Chẳng hạn việc SV đâm chém, tạt axit vào thầy cô thì quá rõ, mọi người biết được ngay thời gian, địa điểm, con người gây ra sự việc. Nguyên nhân cũng có thể xác định là do quá nông nổi, quá giận mất khôn, hay mâu thuẫn cá nhân. Thế nhưng có lỗi chìm sâu khó xác định con người, sự việc. Chẳng hạn bệnh thành tích, chuyện bằng thật, học giả thì gốc vấn đề là do đâu? Hay chuyện ào ạt mở các trường đại học khi chưa đủ điều kiện. Mở trường vì mục đích nâng cao dân trí hay vì mục đích lợi nhuận về mặt kinh tế, một hình thức kinh doanh trong giáo dục, nặng, nhẹ bên nào? Cơ quan, cá nhân nào chịu trách nhiệm về vấn đề này có biết không? Những việc lớn như vậy lẽ nào không thấy, không biết, ai cho phép làm, ai chịu trách nhiệm? Quả là cả hệ thống vấn đề không đơn thuần, đơn phương, đơn giản mà rất phức tạp.Vấn đề là phải tìm được nguồn gốc và bản chất sâu xa của nó để có biện pháp ngăn chặn kịp thời từ đó mở ra hướng đi đúng trong giáo dục.
4. Xây dựng một môi trường văn hóa giao tiếp sư phạm đặc trưng
Phải có một môi trường văn hóa giao tiếp sư phạm đặc trưng bởi trường Sư phạm là trường dạy nghề, trường mang  tính mô phạm, qui phạm nhất. Vì vậy phải xây dựng được những chuẩn mực về văn hóa giao tiếp trong chương trình đào tạo. Trường Sư phạm cần có môn dạy về văn hóa giao tiếp bởi đây được xem như “cửa ngõ” vào đời, là môn trang bị kiến thức mặt bằng văn hóa giao tiếp, môn học làm người đầu tiên để sau đó đi sâu vào các vấn đề thiết yếu khác như: đạo đức học đường, văn hóa học đường …Đây là những vấn đề thuộc “tiên học lễ”. Để thực thi tốt mục tiêu, nhiệm vụ môn học, trường Sư phạm phải nghiên cứu, trình bày được các luận chứng khoa học và phương án giải guyết các vấn đề:
* Về chương trình
Phải thiết kế được chương trình đào tạo. Xác định rõ  mục tiêu, nội dung, đối tượng, phương pháp và kế hoạch dạy- học thật cụ thể. Chương trình phải xuất phát từ chiến lược đào tạo con người mới XHCN Việt Nam “đức –tài”, “hồngchuyên”.Chú ý các vế trước “đức, hồng”. Đồng thời phải xuất phát từ thực tiễn văn hóa học đường của chúng ta lâu nay và việc tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của thế giới, đặc biệt phải biết kế thừa những di sản văn hóa truyền thống nhằm giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc.
* Về nội dung
- Chương trình phải có nội dung thật phong phú, hấp dẫn. Đó là những bài học giao tiếp đa chiều giữa nhiều đối tượng (SV- GV, SV- SV, GV- GV, SV- CB NV và ngược lại), giao tiếp trong nhiều môi trường ( trong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường…), trong nhiều hình thức dạy học (chính khóa, ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ…) với những cách thức, tình huống ứng xử sư phạm khác nhau…Quan hệ giao tiếp và ứng xử sư phạm giữa GV và SV trong quá trình dạy học cần lưu ý là có sự điều chỉnh giữa các phương diện: Về mặt đạo lí phải giữ phép “tôn sư trọng đạo”. Nhưng về mặt khoa học cần thể hiện tính dân chủ bình đẳng để cùng nhau trao đổi, tranh luận trong những vấn đề chuyên môn, học thuật nhằm rèn luyện năng lực tư duy độc lập, tạo tính năng động, sáng tạo cho SV để không bị gò bó, trói buộc, lệ thuộc, chấp nhận một cách khiên cưỡng, từ đó làm cho quan hệ giữa GV và SV trở nên gần gũi, thân thiết, hòa đồng, vừa thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau, đồng thời qua đó cũng thể hiện được sự gắn bó giữa truyền thống và hiện đại.
- Chương trình phải xây dựng được chuẩn văn hóa giao tiếp và hình thành được thói quen giao tiếp có văn hóa cho SV. Ông bà ta xưa đã từng dạy rất kĩ lượng là “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Từ lời ăn, tiếng nói, hệ thống nghi thức lời nói phải giản dị, trong sáng, dễ hiểu phù hợp với từng đối tượng. Phải có ý thức cẩn trọng, nghĩ suy kĩ lượng khi giao tiếp, biết chọn lời hay, ý đẹp làm cho lời nói có giá trị “gói vàng”. Nghìa là văn hóa giao tiếp trong nhà trường sư phạm phải đạt được tính thẩm mĩ. Phải qua chương trình giao tiếp sư phạm, làm cho SV có thái độ thẩm mĩ và trách nhiệm đối với lời nói và hành động. Nhà trường phải dạy cho SV hiểu rằng lời nói hay, lời nói đẹp là biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của con người. Lời nói có giá trị được chắt lọc từ tâm hồn trong sáng, nhân hậu của con người có văn hóa.
- Trong môi trường sư phạm, cần chống những lối nói thô tục, suồng sã, những thái độ, hành vi gây phản cảm có lúc xúc phạm đến người khác. Đồng thời cũng nên tránh những lối giao tiếp hoa mĩ, cầu kì. Phải dạy cho HS, SV biết xúc cảm, đồng cảm, chia sẻ, có ý thức trách nhiệm trong công việc. Phải biết tôn trọng và có ý thức giữ gìn bảo vệ những giá trị của “ chân, thiện, mĩ”, đồng thời kiên quyết chống lại tất cả những gì phản lại “chân, thiện, mĩ”.
Trong thời đại ngày nay, việc mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác, hòa nhập với thế giới bên ngoài là một tất yếu. Trong cuộc giao lưu ấy phải biết “gạn đục khơi trong” để chắt lọc được những tinh hoa văn hóa nhân loại, bổ sung, làm phong phú thêm cho truyền thống văn hóa dân tộc. Cho dù thế giới có hiện đại, có tân tiến bao nhiêu chăng nữa thì chúng ta cũng phải giữ vững được cốt cách, bản lĩnh, bản sắc Việt Nam trong văn hóa giao tiếp, vẫn hết sức coi trọng những giá trị văn hóa truyền thống.
5. Trách nhiệm của nhà trường và giáo viên
- Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường không nên chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường (tất nhiên nhà trường chịu trách nhiệm chính) mà còn phải mở rộng phạm vi từ gia đình đến xã hội. Ngay từ nhỏ, gia đình đã có vai trò rất lớn trong việc hình thành văn hóa giao tiếp cho con cháu. Ông, bà, cha mẹ là những thầy cô giáo đầu tiên hướng dẫn cách giao tiếp có văn hóa cho con, cháu (đi chào, về hỏi, gọi dạ, bảo vâng một cách có lễ phép). Bài học vào đời ấy sẽ được tiếp tục củng cố và phát triển thêm với những nội dung phong phú, mức độ cao hơn ở các bậc học tiếp theo. Phải thấy rằng giáo dục văn hóa giao tiếp là không hề giới hạn bởi cấp học nào, bởi thời gian, không gian nào mà cần phải được tiến hành ở tất cả các bậc học, ở mọi lúc, mọi nơi, phải tiến hành một cách đồng bộ, nhất quán, tiến hành có nội dung, có kế hoạch, có phương pháp và thật kiên trì thì mới có hiệu quả. Nếu thiếu nhất quán sẽ xảy ra tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì sẽ phản tác dụng. Không thiếu trường hợp ở nhà, ở trường thì “con ngoan, trò giỏi”, ra ngoài xã hội lại vi phạm đạo đức, pháp luật. Phải chăng đó một phần là do tình trạng giáo dục không đồng bộ, nhất quán, thiếu sự giám sát chặt chẽ. Vì vậy sự liên kết, phối hợp trong giáo dục là rất quan trọng.
-  Cần hết sức chú ý và coi trọng đúng mức đến vai trò của người giáo viên ớ tất cả các bậc học, các môn học. Không được “ủy quyền” toàn bộ cho GV ở những môn học có ưu thế hơn như: Giáo dục công dân ở phổ thông, hay Tâm lí học, Giáo dục học ở trường Sư phạm. Đành rằng ở các môn học đó có phần ưu thế, nhưng nếu chỉ phó thác toàn bộ cho họ mà thiếu sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều GV của nhiều môn học khác nũa thì chắc chắn kết quả sẽ không cao. Tuy nhiên cũng phải thấy đươc ưu thế của các môn học đó và các môn thuộc ngành khoa học xã hội & nhân văn khác  như Cơ sở văn hóa Việt Nam, như Mĩ học…để có phương pháp khai thác hiệu quả.
- Giáo viên là người trực tiếp thực thi nhiệm vụ cao quí “vì lợi ích trăm năm trồng người” cho xã hội. Vì vậy người giáo viên trước hết phải là người hoàn hảo nhất về tất cả mọi phương diện, là “tấm gương sáng” cho học sinh soi vào. Trong vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp, đạo đức học đường, văn hóa học đường cho HS, SV thì bộ mặt văn hóa tinh thần của GV phải thật sáng sủa ( tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm…trong sáng ). Rõ ràng muốn dạy người khác làm người thì trước hết người dạy phải là CON NGƯỜI - con người chân chính, con người có nhân cách tốt. Trong giáo dục, nhân cách của người thầy có ảnh hưởng rất lớn đến HS,SV. “Tôn sư trọng đạo” sẽ giảm khi người thầy “có vấn đề”. Chỉ cần khiếm khuyết một trong những vấn đề thuộc về đạo đức, nhân cách của người thầy, hiệu quả của giáo dục sẽ bị giảm sút, thậm chí không có kết quả, phản tác dụng: tư tưởng (lệch lạc, bảo thủ, cá nhân), lối sống (bê tha, buông tuồng), tư cách (không đứng đắn)…hoặc thiếu tâm huyết với nghề, chỉ coi nghề dạy học là nghề phụ mà nghề chính là các phương tiện kiếm sống khác, hay  thầy chưa thể “tất cả vì học sinh thân yêu”…đều là những điều phản cảm trong giáo dục.
Nếu cách cư xử của giáo viên trên lớp cũng như ngoài lớp luôn luôn được cân nhắc thận trọng trước sau như một thì hiệu quả giáo dục sẽ rất cao. HS, SV luôn  “theo dõi”, giám sát, học tập thầy cô ở tất cả mọi phương diện trong cuộc sống.
Nếu dạy chữ, dạy kiến thức là thuần trí tuệ thì thì dạy lễ, dạy nghĩa lại cần đến cả trái tim, tâm hồn, tình cảm, dạy bằng cả nhân cách của chính mình.
Nhà trường phải giáo dục cho HS ý thức tự giác, tự nguyện làm theo những chuẩn mực của cái đẹp, từ lời ăn, tiếng nói, tác phong trong sinh hoạt đến lối sống đều hướng đến những “chân, thiện, mĩ”.
Tóm lại, giáo dục văn hóa giao tiếp, đạo đức học đường, văn hóa học đường là nhằm xây dựng không gian văn hóa học đường thật sự trong lành, tốt đẹp có sức cảm hóa, sức hấp dẫn, sức lan tỏa để đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt những cái phi văn hóa từ trong nhà trường đến ngoài xã hội. Để thực hiện được mục tiêu cao quí đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ trên tinh thần cộng đồng trách nhiệm cao và sự quyết tâm, bền chí giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội khác, trong đó vai trò của nhà trường, đặc biệt nhiệm vụ của giáo viên là cực kì to lớn.
Nguồn trích: http://se.ctu.edu.vn/bmnv/index.php?option=com_content&view=article&id=182:oi-iu-suy-ngh-v-giao-dc-vn-hoa-giao-tip-trong-nha-trng&catid=48:khoa-hc-giao-dc-nghip-v-s-phm&Itemid=75

VĂN HOÁ GIAO TIẾP ỨNG XỬ NƠI CÔNG SỞ

Tài liệu huấn luyện


I/ Tổng quan về văn hoá ứng xử giao tiếp ở Việt Nam:
Văn hoá giao tiếp của người Việt Nam bao gồm những đặc điểm sau:
Vừa cởi mở, vừa rụt rè;
Xử sự nặng nề về tình cảm hơn là lý trí;
Trọng danh dự thái quá tới mức trở thành một bệnh sĩ diện hão;  Giữ ý trong giao tiếp;
Thiếu tính quyết đoán. Bắt nguồn từ “Văn minh lúa nước” bao đời nay, những phẩm chất nổi trội về văn hoá trong con người Việt Nam là:
Khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và lối ứng xử mềm dẻo;
Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh vượt qua khó khăn, thử thách;
Giản dị, chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ xa hoa;
Tấm lòng rộng mở và giàu cảm xúc lãng mạn;
Cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ;
Trọng tuổi tác, trọng người già (Lão quyền);
Tập tính hạch toán kém, không quen lường tính xa;
Tác phong tuỳ tiện, kỷ luật không chặt chẽ;
Tâm lý bình quân chủ nghĩa;
Nhân ái, vị tha và rộng lượng;
Nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười (cơ sở chủ nghĩa dân tộc - một người làm quan cả họ được nhờ);
Tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm; Tư tưởng bảo thủ, đóng cửa, tự thu xếp mọi việc, không cầu thị.
II/ Phân loại văn hoá giao tiếp:
1. Khi phân tích các hoạt động giao tiếp trong xã hội, ta có thể chia thành ba loại: Một là, giao tiếp truyền thống: Giao tiếp được thực hiện trên cơ sở các mối quan hệ giữa người và người đã hình thành lâu dài trong quá trình phát triển xã hội: Đó là quan hệ huyết thống trong họ hàng, gia đình giữa ông bà, cha mẹ, con cái v.v... quan hệ làng xóm láng giềng nơi mọi người đều quen biết nhau, vai trò cá nhân trong tiếp xúc giao lưu được quy định rõ ràng, ngôn ngữ giao tiếp đã hình thành lâu dài trở thành những quy định bất thành văn, thấm đẫm vào từng xã hội, cuối cùng trở thành văn hoá ứng xử riêng trong xã hội đó. Tất cả những điều ấy quy định và điều chỉnh quá trình trao đổi thông tin trong quan hệ tiếp xúc, giao lưu. Loại giao tiếp này bị chi phối bởi văn hoá tập quán, hệ thống các quan niệm và ý thức xã hội.
Hai là, giao tiếp chức năng: Giao tiếp chức năng phát triển trong hoạt động chức nghiệp. Loại giao tiếp này xuất phát từ sự chuyên môn hoá trong xã hội, ngôn ngữ và hình thức giao tiếp chịu ảnh hưởng của những quy định thành văn hay không thành văn, để dần trở thành quy ước, chuẩn mực và thông lệ chung trong xã hội. Loại giao tiếp này không xuất phát từ sự đòi hỏi bộc lộ cá tính hay những tình cảm riêng tư mà xuất phát từ sự đòi hỏi của nghi lễ ứng xử xã hội và hiệu quả trong công việc. Đó là ngôn ngữ cho phép mọi người không quen biết nhau, rất khác nhau, nhưng khi thực hiện những vai trò xã hội nhất định đều sử dụng kiểu giao tiếp như vậy. Chẳng hạn đó là giao tiếp trong công việc giữa thủ trưởng và nhân viên, giữa người bán và người mua, giữa bác sĩ và bệnh nhân, giữa bị cáo và chánh án v.v…
Ba là, giao tiếp tự do: Loại giao tiếp này mang nhiều đường nét cá nhân của người giao tiếp, được cảm thụ chủ quan như một giá trị tự tại, như mục đích tự thân. Những quy tắc và mục đích giao tiếp không được định trước như khuôn mẫu, mà xuất hiện ngay trong quá trình tiếp xúc, tuỳ theo sự phát triển của các mối quan hệ. Giao tiếp tự do được thúc đẩy bởi tính chủ động, phẩm chất và mục đích của mỗi cá nhân, nó cần thiết trong quá trình xã hội hoá làm phát triển và thoả mãn các nhu cầu về lợi ích tinh thần và vật chất của các bên giao tiếp một cách nhanh chóng và trực tiếp. Loại giao tiếp này trong thực tế cuộc sống là vô cùng phong phú, trên cơ sở trao đổi những thông tin có được, làm thức tỉnh những hứng thú tình cảm sâu sắc và để giải toả xung đột của mỗi cá nhân.
2. Mức độ của hành vi văn minh trong giao tiếp của mỗi người được đánh giá thông qua cấu trúc:
Tính chuẩn mực (phần cứng): biểu hiện ở những quy ước (dưới dạng truyền thống đạo đức, lễ giáo, phong tục tập quán) có ảnh hưởng vô hình và lâu dài trong tư duy, hành vi và thói quen của mỗi người; ý thức hệ xã hội (có ảnh hưởng mang tính bắt buộc); cùng với những quy định mang tính đặc thù của tổ chức - nơi mỗi người làm việc. Trong giao tiếp chính thức thì các quy ước và quy định đã được thể chế hoá. Mặt khác nó còn được biểu hiện ở kiểu khí chất trong mỗi cá nhân.
Tính linh hoạt dựa trên phẩm chất cá nhân (phần mềm): trong giao tiếp biểu hiện ở trình độ văn hoá, học vấn, kinh nghiệm, trạng thái tâm lý, độ tuổi ở mỗi cá nhân, giới tính và đặc điểm nghề nghiệp. Mỗi người có thể tiến hành giao tiếp và đạt được kết quả như thế nào tuỳ thuộc vào sự linh hoạt vận dụng những phẩm chất cá nhân đó trong mỗi tình huống và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Trên thực tế trở ngại lớn nhất trong giao tiếp thường ở phần cứng (đặc biệt giao tiếp với đối tác là người nước ngoài). Có nghĩa là người ta có thể bị ảnh hưởng quá sâu sắc, hoặc bám giữ quá chặt chẽ vào những quy định, quy tắc thuộc về phần cứng, do đó hạn chế đến khả năng tiếp cận và thích ứng với người đối thoại. Điều này ở mức độ lớn được gọi là sự xung đột về nền văn minh mà mỗi cá nhân đương hưởng thụ và chịu sự chi phối của nó. Tuy nhiên khi phẩm chất cá nhân đạt đến một trình độ cao, người ta càng có khả năng tự chủ, thoát ra khỏi mọi khuôn sáo, giáo điều một cách uyển chuyển linh hoạt. Sự linh hoạt (phần mềm chứ không phải là phần cứng) đang chứng tỏ sự thành công của nó trong một thế giới mà các mối quan hệ đang tiến đến gần một chuẩn mực chung. Nhưng phẩm chất cá nhân sẽ là gì khi thoát ly hẳn với phần cứng? Thực chất là bản sắc không thể tự mình tạo nên, và trong chân không, nó phải có gốc của nó - đó là phần cứng. Quả cây có ngọt hay không hãy xem đất của nó. Đến lượt nó, điều này lại giúp chúng ta tránh được xung đột về cá tính.
3. Cốt lõi của lịch sự: điều mà nhờ nó chúng ta dành được cảm nhận tích cực từ phía đối tác là:
Văn hoá chuẩn mực: có nghĩa là văn hoá ứng xử của mình phù hợp với bối cảnh, với đối tác, với địa vị và nghề nghiệp được điều tiết đúng mức độ mà công việc đòi hỏi;
Tự nhiên: nghĩa là hành vi và cách ứng xử ấy không phải là kết quả của sự cố tạo dựng, gò ép hay bắt chước mà như là phẩm chất của chính mình, kết quả của một quá trình giáo dục lâu dài;
Đàng hoàng: mọi cử chỉ, hành vi và lời nói không thể để cho đối tác liên tưởng đến những ngụ ý không tích cực về mình. Thí dụ bắt tay quá lâu và quá chặt với phụ nữ, ghé sát mặt thì thào, tỏ ra thân thiện quá mức với một ai đó, nhìn ngang nhìn ngửa...;
Tự tin: có nghĩa là cái mà đối tác nhận được từ hành vi ứng xử của mình là cái xứng đáng mà họ được hưởng với tư cách, địa vị và với sự đòi hỏi của công việc mà hai bên sẽ tiến hành. Sự nhún nhường quá mức đến mức khúm núm khiến đối tác ngộ nhận và khiến hành vi ứng xử của ta đã đi ra khỏi cái nghĩa của lịch sự đó là sự cầu cạnh.
QUY TẮC 10 ĐIỂM TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP
1. Ân cần: Trong giao tiếp tránh tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt hoặc có vẻ mặt khó đăm đăm, bực tức. Luôn cần thể hiện sự quan tâm và tôn trọng đối tượng giao tiếp;
2. Ngay ngắn: Trang phục hợp cách, không tuỳ tiện, luộm thuộm; tác phong không tỏ ra trễ nải, dặt dẹo;
3. Chuyên chú: Không làm việc riêng trong khi giao tiếp, nhất là chị em phụ nữ thường hay cắt móng tay, móng chân, kẻ lông mày, tô son, đánh phấn;
4. Đĩnh đạc: Không trả lời thủng thẳng, hỏi câu nào trả lời câu ấy, cách nói thiếu chủ ngữ, cộc lốc, nhát gừng;
5. Đồng cảm: Cần thể hiện cảm xúc đúng lúc, đúng chỗ, mắt luôn hướng về người đối thoại bày tỏ sự quan tâm, đồng cảm;
6. Ôn hoà: Tránh vung tay tuỳ tiện, đặc biệt là chỉ ngón tay về phía mặt đối tượng giao tiếp theo “nhịp điệu” của lời nói “đanh thép” của mình. Cần có thái độ ôn hoà;
7. Rõ ràng: Không nói quá to, kiểu nói oang oang hoặc nói quá nhiều. Tránh nói lạc đề hoặc nói quá nhỏ, kiểu lí nhí khiến người nghe phải căng tai mới nghe rõ;
8. Nhiệt tình: Thể hiện sự sẵn sàng phối hợp giúp đỡ người khác khi cần thiết, đừng tỏ ra khó khăn, ích kỷ;
9. Nhất quán: Phải khắc phục sự phát ngôn bất nhất, thay đổi tuỳ tiện, chối phăng những điều đã nói ra hoặc dễ dàng hứa nhưng không làm theo lời hứa. Đó là loại người ai cũng muốn tránh xa;
10. Khiêm nhường: Tránh tranh luận khi không cần thiết, hoặc thích bộc lộ sự hiểu biết, sự khôn ngoan của mình hơn người, thích dồn đối tượng giao tiếp vào thế bí để dành phần thắng về mình.
4. Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp:
Rèn luyện các kỹ năng định hướng
Học thuộc về các biểu hiện bên ngoài, ngôn ngữ “của cơ thể” mà nó nói lên cái tâm lý bên trong của người ta. Rèn luyện sự quan sát con người, tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình sống. Quan sát thực nghiệm bằng các băng ghi hình, tham khảo kinh nghiệm dân gian, tướng mạo học cũng rất có ích để nâng cao các kỹ năng định hướng trong giao tiếp.
Rèn luyện các kỹ năng định vị
Rèn luyện tính chủ động và điều tiết các đặc điểm tâm lý vốn có của mình và của đối tượng giao tiếp, tức là biết cách thu nhập và phân tích xử lý thông tin.
Rèn luyện các kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp
Rèn luyện khả năng thống ngự: có nghĩa là rèn luyện năng lực khống chế, chi phối và điều khiển cả con người trong giao tiếp. Thế nào là người có khả năng thống ngự ? Người có khả năng thống ngự là người biết và nắm chắc được sở thích, thú vui của đối tượng giao tiếp và là người hiểu biết nhiều, lịch lãm, tinh tường nghề nghiệp. Người ta có thể bồi dưỡng khả năng thống ngự của mình bằng cách:

Trích nguồn: http://www.dongduong.edu.vn/index.php/Van-hoa-doanh-nghiep/Tai-lieu-huan-luyen-van-hoa-giao-tiep-ung-xu-noi-cong-so.html

VĂN HÓA DG ĐỒNG THÁP- BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY



 Bảo tồn và phát huy VHDG là công việc có nhiều công đoạn, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, công sức của toàn xã hội. Nhưng trước khi bàn đến việc chuyển đổi chức năng, vị trí và hình thức của VHDG, phải cấp bách tổ chức một cuộc sưu tầm quy mô, nhằm sưu tầm tất cả những hoạt động, biểu hiện, hiện tượng mà ngày nay còn có thể sưu tầm được bằng phương tiện hiện đại, rồi tập trung chúng lại dưới dạng ngân hàng lưu trữ tư liệu, làm cơ sở cho các bước tiếp theo. Nếu không có cơ sở này, công việc bảo tồn và phát huy sẽ khó thực hiện và chúng ta, những người của thế hệ hôm nay phải chịu trách nhiệm về việc này trước hậu thế.  
 
 

1. Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá riêng. Văn hoá là cái không có sẵn trong trời đất mà do con người sáng tạo trong quá trình ứng xử với thiên nhiên với đồng loại cũng như trong quá trình nhận thức. Mọi người đều thống nhứt chia văn hoá dân tộc ra hai loại: văn hoá chánh qui/bác học và văn hoá bình dân/dân gian. Phạm vi văn hoá dân gian (VHDG) bao gồm toàn bộ các phong tục tập quán thể hiện trong lối sống, trong mối quan hệ của con người với nhau, với tổ tiên, với các lực lượng siêu nhiên mà họ tin tưởng; gồm toàn bộ tri thức liên quan đến hoạt động sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cuộc sống (ăn - ở - mặc, chữa bịnh…); bao gồm các loại hình văn hoá ngôn từ truyền miệng và nghệ thuật diễn xướng, hội hè đình đám… Tác giả của nó là lớp nông dân, bình dân ít học. Mỗi loại hình hoặc từng đơn vị của nó đều ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử - xã hội nhứt định, trên một địa phương cụ thể; sự hình thành của nó cũng có khi là cả một quá trình, nhưng vẫn diễn ra trong xã hội nông nghiệp truyền thống, với các thuộc tính của nó. Sau khi hình thành, VHDG lan toả, giao lưu với người anh em ở các vùng/miền khác dưới sự tác động của tình hình lịch sử - xã hội liên tục thay đổi.

 Như vậy, VHDG là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá mỗi quốc gia, dân tộc. Nó đã khẳng định bản sắc cụ thể của từng dân tộc, của từng vùng/miền, là căn cước của mỗi dân tộc, làm cơ sở để một dân tộc hoà nhập với cộng đồng nhân loại mà không tự đánh mất mình. Trong xã hội hiện đại, di sản văn hoá, trong đó có VHDG, được quan niệm không phải như những biểu hiện hoài niệm quá khứ, mà là một lực cố kết cộng đồng trong cuộc đấu tranh vì sự tồn vong và phát triển. VHDG còn là bảng tổng kết kinh nghiệm sống bao đời để lại; nó chẳng những có giá trị về mặt tinh thần, lịch sử, nghệ thuật, ứng xử, giáo dục… mà còn có giá trị về kinh tế, nếu chúng ta biết sử dụng khai thác.
2. Điều kiện tự nhiên, môi trường, khí hậu… là tác nhân chính đưa đến sự hình thành nhiều khu vực, vùng miền VHDG khác nhau. Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đương nhiên VHDG ở Đồng Tháp phải mang đặc điểm của vùng sông nước này. Thêm vào đó, Đồng Tháp bị sông Tiền chia làm hai mảng, mảng Bắc sông lại nằm trong vùng trũng Đồng Tháp Mười (ĐTM), có sinh thái đặc biệt với sình lầy cùng rừng tràm và lau sậy.
Thế nên vào thế kỷ XVII, XVIII, khi lưu dân người Vịêt vào đây, nhiều người tập trung khai thác vùng phía Nam sông trước, hoặc nếu có đến vùng Bắc sông cũng quan tâm khai thác vùng ven sông Tiền, rồi qua các thế hệ sau mới từng bước tiến vào nội đồng.
Để phục vụ cuộc sống, mấy trăm năm qua, con người ở đây tác động vào thiên nhiên, quan hệ với nhau trong điều kiện lịch sử - xã hội của địa phương và của cả nước... để lại đến nay một kho tàng văn hoá, một di sản văn hoá phong phú, đa dạng không kém gì các tỉnh lân cận. Bên cạnh các yếu tố chung của vùng ĐBSCL, do điều kiện vị trí địa lý và môi trường tự nhiên đặc bịêt tác động nên VHDG Đồng Tháp còn có một số nét riêng, thể hiện rất rõ trong từng lãnh vực.
Ở Nhựt, người ta gọi di sản văn hoá là tài sản văn hoá, vừa có ý nghĩa quý hiếm về giá trị tinh thần vừa có ý nghĩa vốn liếng sinh lợi cho con người về mặt  kinh tế. Di sản này thuộc loại tiềm ẩn trong dân gian. Muốn nhận diện, nắm bắt cụ thể, phải có quá trình khảo sát nghiên cứu khoa học, có tổ chức, đòi hỏi tốn kém nhiều công sức và thời gian.
Trong thời gian qua, tại Đồng Tháp có một số công trình sưu tầm biên khảo về VHDG, bên cạnh những công trình sử dụng kinh phí nhà nước, có không ít công trình là công sức cá nhân. Theo thời gian, lần lượt xuất hiện:
            - Giai thoại Dân gian Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hữu Hiếu (1988) gồm 43 truyện kể gồm các truyền thuyết, giai thoại về đất nước, con người vùng ĐTM.
            - Ca dao Đồng Tháp Mười (1988) do Nhóm tác giả thuộc Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp sưu tầm, biên soạn với hơn 2000 câu ca dao ca ngợi tình yêu quê hương, đôi lứa, gia đình cùng các mối quan hệ xã hội khác.
            - Dân ca Đồng Tháp (1994) do tỉnh chủ trương, Lê Giang - Lư Nhất Vũ chủ biên, gồm: hát đưa em (15 bài), hát huê tình (5 bài), hò huê tình (10 bài), hò cấy (22 bài), hò khoan (4 bài), các điệu lý (80 bài), nói thơ (4 bài), hát đồng dao (20 bài), hát bóng rỗi (1bài), vè (30 bài), thơ rơi (3 bài).
- Thơ văn Đồng Tháp tập I (1986) do tỉnh chủ trương, Nhóm tác giả (giáo sư Lê Trí Viễn chủ biên) thuộc Trường Đại học Sư phạm TP.HCM và Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp thực hiện, gồm truyền thuyết với truyện cổ (16), cổ tích (11), truyện cười (13), câu đố (6 loại, trên 300 câu), vè về chim muông (5 ), vè thế sự (18), ca dao, dân ca (bốn loại: tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, các mối quan hệ xã hội khác, gần 1500 câu).
- Làng hoa Tân Quy Đồng Sa Đéc của Lê Kim Hoàng (1993); sách khổ bỏ túi, ghi nhận lịch sử hình thành làng nghề cùng kỹ thuật ghép, lai tạo, trồng một số hoa kỉêng.
- Văn hoá Dân gian Đồng Tháp, tập 1 (2005) của nhiều tác giả gồm 32 bài về đất nước con người, tín ngưỡng dân gian, nghề truyền thống và ẩm thực.
- Truyền thuyết Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều của Nguyễn Hữu Hiếu (2006) gồm 27 bài với nội dung ca ngợi, truyền tụng thành tích chiến đấu, tấm gương hy sinh của Võ Duy Dương và Nguyễn Tấn Kiều.
 - Văn hoá dân gian vùng Đồng Tháp Mười (2007) của Nguyễn Hữu Hiếu, dày 340 trang, gồm sáu chương. Chương mở đầu nói về điều kiện tự nhiên và tên gọi ĐTM; chương hai nói về di tích văn hóa lịch sử (15), chương ba: Nhân vật (10), chương bốn: Đời sống vật chất, gồm các nội dung: hoạt động khai thác lâm thủy sản, hoạt động canh tác, ẩm thực, cư trú và phương tiện di chuyển; chương năm: Đời sống tâm linh, với các nội dung: Đình làng, tục thờ Bà chúa xứ, ông Tà, Cúng việc lề, chương sáu: Văn học với truyền thuyết (20) và văn vần với ca dao, hò, vè, hát bóng rỗi, thơ rơi (mỗi thể loại một vài bài).
- Sự hình thành và phát triển làng đóng xuồng ghe Long Hậu của Ts. Ngô Văn Bé (2008). Sách dày 60 trang, nội dung đề cập đến sự hình thành làng nghề cùng kỹ thuật, kiểu dáng một số loại ghe xuồng và tín ngưõng tâm linh của làng.
-Nghề cá Đồng Tháp Mười năm xưa của Nguyễn Hữu Hiếu (2010) với nội dung gồm sáu mục. Mục một, giới thiệu điều kiện tự nhiên của vùng ĐTM. Mục hai, mô tả 33 ngư cụ và cách đánh bắt cá trong mùa khô và mùa nước lên. Mục ba, lược thuật chánh sách đối với nông dân khai thác cá qua các thời kỳ. Mục bốn, trình bày một số nghề thủ công với con cá. Mục năm, các món ăn chế biến từ cá tôm. Mục cuối cùng đề cập đến đời sống tâm linh của những người khai thác cá.
Gần đây, có một số luận văn tốt nghiệp đại học và sau đại học, khai thác một số đề tài trong nguồn VHDG Đồng Tháp, cụ thể như:
+ Luận văn Cử nhân, có:
- Đặc điểm Truyền thuyết Dân gian Đồng Tháp của Hoàng Thị Hà (2007);
- Bước đầu tìm hiểu về Đình làng ở Đồng Tháp của Nguyễn Thị Mỹ (2009);
-Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển Làng Hoa kiểng Tân Quy Đông - Sa Đéc của Nguyễn Thị Hồng Phượng (2009);
- Tìm hiểu về tín ngưỡng Bà Chúa xứ của Lê Thị Ngọc Phượng và Phạm Quang Trang Liễu (2010)...
+ Luận văn Thạc sĩ, có:
- Tín ngưỡng dân gian của người Kinh ở thành phố Cao Lãnh của Nguyễn Thuận Quý (2010);
- Làng nghề Hoa kiểng Sa Đéc của Nguyễn Thị Thúy Ngọc (2010);
- Đình làng vùng Đồng Tháp Mười của Nguyễn Quang Trình (2010);
- Ngư cụ của nông dân Đồng Tháp từ thế kỷ XVII - thế kỷ XX của Đường Tiến Nhanh (2011);
- Đình làng ở huyện Cao Lãnh của Trần Văn Chín (2011);
- Nghề cá Đồng Tháp Mười của Tăng Trung Nghĩa (2011)...
Ngoài ra, còn nhiều bài báo, bài viết đã đăng tải trên các báo, trang web về ngành nghề truyền thống, tín ngưỡng dân gian, ẩm thực... dưới dạng giới thiệu quảng bá du lịch hơn là nghiên cứu chuyên sâu.
Có thể nói, toàn bộ các công trình trên chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, những điều đã khám phá, phát hiện được không thấm vào đâu với cả kho tàng, trong đó chưa đựng biết bao nhiêu tri thức dân gian quý báu, hết sức cần thiết cho cuộc sống hôm nay. Không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển thế giới năm 1995, đã khẳng định: Các nhân tố văn hoá là những điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững và trở thành một phần không thể tách rời của chiến lược phát triển (1).
3. Việt Nam hiện nay là thành viên của nhiều tổ chức thế giới và uy tín trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Để có thể hội nhập và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, những nước chậm phát triển như Việt Nam phải bước vào con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Ở Việt Nam, quá trình này không chỉ diễn ra ở thành thị mà còn ở cả nông thôn, cái nôi sản sinh ra VHDG. Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội đặt văn hoá cổ truyền nói chung, trong đó VHDG trước nguy cơ bị mai một và trên thực tế đã có một vài loại hình VHDG đã biến mất hoặc đang trên đà biến mất.
Như vậy, đặt ra vấn đề bảo tồn và phát triển di sản VHDG ở đây là một điều hết sức cân thiết và hợp lý. Bảo tồn và phát huy hiện nay là vấn đề thời sự trong lãnh vực văn hoá và hoạt động văn hoá nói chung. Bảo tồn và phát huy nhằm đạt tới sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại; tiên tiến mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng làm sao để kết hợp hai hoạt động thoạt nhìn có vẻ đối chọi nhau là biện pháp không phải dễ tìm, dễ thực hiện.
VHDG là sản phẩm của xã hội nông nghiệp cũ. Trong xã hội đó, mối quan hệ giữa người và người được hình thành một mạng lưới quan hệ và thông qua đó con người xây dựng mối quan hệ với thiên nhiên và với lịch sử cộng đồng, được huyền thọai hoá và siêu nhiên hoá. Trong cộng đồng đó, mọi thành viên đều tham gia sáng tạo và thực hành các hoạt động văn hoá để tự thoả mãn nhu cầu văn hoá của mình. Ngày nay, chúng ta bước vào xã hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá với mức độ phân công lao động cao, với cơ chế thị trường, với nền sản xuất, lưu thông, trao đổi hàng hoá và lối sống tiêu thụ cũng xuất hiện. Thêm vào đó, tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lãnh vực truyền thông cũng góp phần không nhỏ vào quá trình làm giảm thiểu vai trò của cộng đồng, một môi trường không thể thiếu được trong đời sống xã hội nông nghịêp truyền thống.
Kết quả là văn hoá cổ truyền, trong đó có VHDG đã bị tước mất đi cơ sở xã hội vốn có của nó, nơi nó được sanh ra, tồn tại và phát triển. Nói khác hơn, nó không còn tồn tại một cách nguyên vẹn, một hệ thống văn hoá hoàn chỉnh như vốn có. Câu hò trên sông nước, trên đồng ruộng trong mùa cày cấy… sẽ đi về đâu khi trên sông vang đầy tiếng nổ của động cơ Kholer, BS…, hình ảnh con trâu cày ruộng, đám công cấy lúa đã được thay bằng máy cày, máy gieo sạ… Tiếng hát ru em không còn vẳng lên giữa trưa hè oi ả hay trong đêm khuya thanh vắng… vì người mẹ, người dì, người chị đã vào nhà máy, đến công tư sở, trường học, bà nội, bà ngoại đã ở riêng hoặc vào nhà dưỡng lão vì cơ cấu gia đình với ba, bốn thế hệ không còn nữa; vì trẻ em đang ngủ ở nhà trẻ, trường mẫu giáo trong tiếng nhạc ru phát ra từ đầu đĩa CD… Răng đen, ăn trầu… không còn phù hợp với quần jean, áo thun hở rún, váy đầm và ngoài chợ đã có bày bán trái cau, lá trầu bằng nhựa… Hình ảnh chiếc cầu khỉ, cầu tre, cây đa bến nước, đường làng rợp bóng cây xanh… chỉ còn là hoài niệm, khi tuổi trẻ hôm nay phóng xe như bay trên đường làng lót đan, cầu bê-tông, v.v… Và số phận cũng như ý nghĩa câu: Qua đình ghé nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu sẽ ra sao khi một số đình hiện nay được trùng tu với cột bê-tông và mái lợp… tôn! V.v…
Thực trạng trên cho chúng ta thấy rõ ràng là khi mất dần đi cơ sở xã hội ra đời, tồn tại và phát triển của mình, VHDG đang trải qua quá trình giải cấu trúc. Nó không tồn tại như một thực thể toàn vẹn. Nhưng nó không mất đi hẳn, những thành phần, yếu tố của nó đang được người đương thời chọn lọc và đưa nó tham gia vào một quá trình mới, quá trình tái cấu trúc trong văn hoá dân tộc đương đại (2).
4. Trong tình hình VHDG không còn là một hệ thống đúng nghĩa như vốn có mà chỉ là những yếu tố, những thành phần đã bị tách rời khỏi hệ thống đó, một số biểu hiện, một số hoạt động VHDG cổ xưa đã vĩnh viễn biến mất khỏi đời sống con người Việt Nam do tính lỗi thời của nó,  như tục nhuộm răng đen (ở miền Bắc), vè, thơ rơi (ở Đồng Tháp, Nam bộ)… sắp đến là tục ăn trầu… chẳng hạn.
Hiện trạng này thể hiện qua mấy dạng:
- Mất đi cơ sở xã hội vốn có, VHDG gian phải trải qua quá trình giải cấu trúc để trở thành những yếu tố riêng lẻ.
- Một số yếu tố riêng lẻ này sẽ mất hẳn đi, vì lỗi thời.
- Một số khác, nhứt là trong các loại hình diễn xướng có điều kiện tồn tại, tham gia vào quá trình cơ cấu mới của trong nền văn hoá đương đại.
Chúng ta cũng nhận biết rằng, trong hệ thống VHDG, như trên đã trình bày là mỗi hoạt động, mỗi loại hình của nó đều được hình thành trong một hoàn cảnh xã hội nhứt định, ở một vùng/miền nào đó, nên khi ra đời, nó đều gắn liền với một chức năng, một vị trí xã hội, một hình thức cụ thể.
Do đó, trong hoạt động bảo tồn và phát huy VHDG, chúng ta có thể tận dụng các đặc điểm này để chuyển đổi chức năng, vị trí và hình thức của nó trong quá trình tái cấu trúc để đưa nó vào nền văn hoá dân tộc đương đại, cụ thể như:
- Dù ngày nay chức năng ru cho em bé ngủ (trong hát ru em), chức năng làm vơi đi mệt nhọc khi cấy lúa, chèo ghe của hò… không còn, nhưng những bài hát ru em, những câu hò, điệu hò… vẫn còn đó với tư cách là những tác phẩm sáng tạo nghệ thuật chuyển tải tâm tư, tình cảm con người. Như vậy là chúng ta vẫn còn sử dụng được chức năng sáng tác của chúng. Sáng tác chính là chức năng mới của chúng.
Cũng vậy, tục múa bóng hay bóng rổi trong lễ cúng miếu (ngoài xã hội), cúng trang (trong gia đình), ngày nay cơ sở xã hội vốn có của nó ngày một mất dần đi, nhưng điệu nhạc, điệu múa nghi lễ của nó, chúng ta có thể sử dụng để biểu diễn trong các cuộc vui chơi, các tổ chức lễ hội đương đại có tiết mục văn nghệ, còn lời hát, câu ca của nó chúng ta có thể sáng tác mới sao cho phù hợp với hoàn cảnh, với mục đích yêu cầu của buổi lễ, giống như các nghệ nhân múa bóng đã từng sáng tác trước đây. Có thể nói, chúng ta vừa thay đổi chức năng vừa thay đổi hình thức của tục bóng rổi.
- Khi nó mang chức năng mới, hoà vào nền văn hoá đương đại, vị trí xã hội của nó cũng thay đổi, mang vị trí và ý nghĩa mới trong đời sống con người.
- Đối với các sản phẩm tiểu thủ công, mỹ nghệ của những làng nghề truyền thống muốn tồn tại, phát triển và hoà nhập vào nền kinh tế thị trường hôm nay, phải thay đổi mẫu mã, phải thêm bao bì, nhãn mác… Sự thay đổi hình thức này cũng xuất hiện ở các nghi lễ cúng tế, như rút ngắn thời gian tế lễ, giảm bớt nghi thức. Như trong tục cúng đình, trước đây khi lệ cúng kỳ yên thường kéo dài ba ngày, có nơi lâu hơn nữa kèm theo hát bội, còn lệ cúng hạ điền, thượng điền lúc tế thần phải có học trò lễ; ngày nay hát bội và học trò lễ ngày càng vắng bóng trong các buổi lễ trọng này.
Tóm lại, trong tình hình hiện nay, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cổ truyền trong đó có VHDG là một việc cần thiết phải làm. Song trước hết phải thấy rằng văn hoá bao giờ cũng là kết quả sáng tạo của toàn dân, nên trong công việc bảo tồn, phát huy và truyền lại cho thế hệ trẻ di sản quý báu này, sự tham gia của toàn thể cộng đồng là không thể thiếu được. Bảo tồn và phát huy VHDG là công việc có nhiều công đoạn, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, công sức của toàn xã hội. Nhưng trước khi bàn đến việc chuyển đổi chức năng, vị trí và hình thức của VHDG, phải cấp bách tổ chức một cuộc sưu tầm quy mô, nhằm sưu tầm tất cả những hoạt động, biểu hiện, hiện tượng mà ngày nay còn có thể sưu tầm được bằng phương tiện hiện đại, rồi tập trung chúng lại dưới dạng ngân hàng lưu trữ tư liệu, làm cơ sở cho các bước tiếp theo. Nếu không có cơ sở này, công việc bảo tồn và phát huy sẽ khó thực hiện và chúng ta, những người của thế hệ hôm nay phải chịu trách nhiệm về việc này trước hậu thế.
Trích nguồn: 
http://vannghedongthap.vn/?id=d&u=news&su=detail&fid=47&idnn=1193

ĐỒNG THÁP: TÁI HIỆN NÉT VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA VÙNG ĐBSCL

Khu du lịch văn hóa lúa nước nằm tại xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò - Đồng Tháp, với tổng kinh phí 150 tỷ đồng, có tổng diện tích 72,3ha do Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hai Lúa đầu tư xây dựng, dự kiến hoàn thành vào năm 2015.

Ông Đặng Phước Thành (Bảy Thành), Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hai Lúa cho biết khu du lịch Văn hóa lúa nước nhằm tái hiện nét văn hóa đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long được chia thành 3 khu vực là khu bảo tồn, bảo tàng và nghỉ dưỡng; khu trồng cây ăn trái; khu trồng lúa và rừng sinh thái.
Khu bảo tồn, bảo tàng và nghỉ dưỡng là nơi trưng bày các loại nông cụ, sinh vật quý hiếm, lịch sử văn hóa lúa nước và hình ảnh lịch sử tỉnh Đồng Tháp nhằm giữ gìn và truyền bá nét văn hóa truyền thống.
Khu nghỉ dưỡng vừa hiện đại, vừa dân dã gồm các loại hình nhà ở dân dã với nội thất hiện đại, các nhà sàn gỗ theo mô hình sinh thái vùng nông thôn Việt Nam, một số ngôi nhà tách biệt xen kẽ với vườn cây ăn trái, hoa kiểng thể hiện nếp sống bình yên của vùng nông thôn Việt Nam.
Bên cạnh đó còn có hồ bơi dành cho khách du lịch nước ngoài, khu massage dưỡng thể và luyện tập yoga; khu dịch vụ du lịch siêu thị mini và sinh hoạt dịch vụ cao cấp, dịch vụ cho thuê: xuồng, ghe, xe ngựa, xe bò, lưới giăng. Trong đó, còn có khu công trình văn hóa dân gian là nơi tưởng niệm, tôn vinh các vị có công khai phá vùng đất phương Nam, kết hợp với khu sân khấu ngoài trời.


Đồng Tháp, nét văn hóa đặc trưng của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Đặc biệt, khu tổ chức lễ hội sẽ diễn ra ra các hoạt động văn hóa tâm linh của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long như: cúng đình, đi chùa, giỗ chạp, thờ cúng tổ tiên, gả cưới; hát dân ca khi tới mùa gieo sạ lúa và hát cải lương mừng ngày bội thu mùa gặt.
Tiếp đến là các khu làng nghề truyền thống nhằm khôi phục, tôn vinh Tổ nghề Nam bộ như nghề dệt chiếu, làm mắm, làm bột, lò rèn, mộc, đóng xuồng ghe, câu lưới... kết hợp trưng bày bán sản phẩm thủ công mỹ nghệ do làng nghề làm ra. Trong đó, có khu giới thiệu các loài tre (bố trí khoảng 200 loài tre) các loại; khu ẩm thực bố trí kết hợp với chợ nổi tái hiện cảnh buôn bán trên sông của nông dân Nam bộ...
Khu trồng cây ăn trái giới thiệu các loại cây đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long như xoài, cam, quít, sa bô, bưởi, vú sữa với hệ thống tưới tiêu kết hợp nuôi cá, nuôi tôm cùng kỹ thuật gieo trồng không dùng phân bón hóa học.
Khu phân bố khoảng 100 ao có kích thước 2x10m cung cấp dịch vụ tát nước, bắt tôm, cá, mang lại cảm giác thú vị cho du khách khi được tự tay tát cạn nước bằng gầu sòng, đặt lợp, xà vi để bắt cá. Đội ngũ nhân viên phục vụ sẽ giúp khách chế biến thức ăn tại chỗ theo ý thích.
Trong khu vực này còn có khu vui chơi giải trí dân gian như chọi gà, chọi trâu, chọi cá, chọi chim, câu cá... kết hợp với khu ẩm thực dân gian; khu tham quan các loài chim quý hiếm, các loại trái cây theo mùa đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, các khu diễn vở tuồng cải lương xưa nói về đời sống văn hóa dân gian hay tuồng tích lịch sử của dân tộc.
Khu trồng lúa và rừng sinh thái bố trí các nhà sàn ven kênh, sông sống bằng nghề trồng lúa nước, tát đìa bắt cá, giăng câu, chăn nuôi gia súc, gia cầm và làm một số nghề thủ công như nuôi ong, làm bột, bánh tráng, bánh phồng, nem...; xem kẽ với 9 ha ruộng trồng lúa là các khu bảo tồn trồng tràm, ô rô, sen, bông súng, lúa trời, điên điển, năn, sậy, các loài rong rêu, lục bình, vẹt, dừa nước...
Hàng ngày đều có cảnh thực hiện lại việc trồng lúa nước như cắt, đập, bừa, cày cấy, tát nước vào ruộng, trâu bò kéo lúa về nhà. Ngoài ra, môi trường sinh thái lúa nước, các đầm bưng, sen và rừng tràm cũng được quy hoạch, tạo môi trường tự nhiên, làm nơi sinh sống của các loài rắn, rùa, chim, cò... Trong khu này còn bố trí một phần diện tích để xây dựng đài quan sát toàn khu vực.
Dự án nhằm nâng cao giá trị văn hóa “Vùng Lúa nước,” tái hiện, bảo tồn và bảo tàng sự tinh hoa nền văn hóa truyền thống. Đến đây du khách có thể tận mắt chứng kiến hình ảnh sản xuất lúa nước của cha ông ta với đời sống, sinh hoạt của cư dân lúa nước và nông thôn của thời xa xưa và tự tay thực hiện các hoạt động đánh bắt cá dân dã hay tập làm các ngành nghề truyền thống địa phương.
Dự án Khu du lịch Văn hóa lúa nước được tỉnh bổ sung vào bản đồ du lịch Đồng Tháp và Đồng bằng sông Cửu Long một địa chỉ du lịch – văn hóa hấp dẫn trong tương lai.

Nguồn trích: http://vhttdlkv3.gov.vn/Tin-tuc/Dong-Thap-Tai-hien-net-van-hoa-dac-trung-cua-vung-Dong-bang-song-Cuu-Long.2081.detail.aspx

BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ

Hàng trăm học sinh phải nghỉ học, nhiều trường tìm mọi cách khống chế lây lan nhưng dịch đau mắt đỏ vẫn hoành hành. 

Hai tuần trở lại đây, dịch đau mắt đỏ bùng phát mạnh ở TP HCM. Các học sinh mầm non, tiểu học vì sức đề kháng còn yếu nên tình trạng lây lan diễn ra rất nhanh. Từ một vài em, đến nay, nhiều trường đã có cả cả trăm học sinh phải nghỉ học vì bệnh này.
"Dù đã cố gắng phòng chống bằng nhiều cách, nhưng số học sinh bị đau mắt đỏ vẫn đang ngày càng tăng", cô Lê Thị Ngọc Giàu, Hiệu trưởng mầm non Sơn Ca 9 (quận Phú Nhuận) nói.
b-JPG-6324-1380093447.jpg
Vì bị bệnh đau mắt đỏ gần cả tuần nay Nguyễn Trọng Bảo Khang phải ở nhà chơi với bà ngoại thay vì đi nhà trẻ như mọi ngày. Ảnh: Nguyễn Loan
Ngay từ đầu giờ nhận học sinh, các giáo viên được yêu cầu phải kiểm tra mắt của từng cháu một. Nếu phát hiện em nào có dấu hiệu bệnh sẽ đề nghị phụ huynh đưa các bé đến các trung tâm y tế và theo dõi tại nhà. "Vì chương trình học của mầm non còn khá nhẹ nên việc nghỉ học của các cháu không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng", cô Giàu nói thêm.
Hiệu trưởng này cũng cho biết, lúc đầu chỉ một vài em mắc bệnh. Ngay sau đó, nhà trường đã cho các em này nghỉ học và tổ chức nhỏ thuốc phòng bệnh cho học sinh toàn trường vào mỗi sáng nhưng tình trạng lây lan vẫn diễn ra. Đến nay, cả trường đã có gần 50 em bị dịch này, một số giáo viên cũng phải chuyển sang làm công tác "hậu cần" để tránh tiếp xúc với học sinh khi bị đau mắt đỏ.
"Bệnh đau mắt đỏ lây lan rất nhanh. Để phòng bệnh, các phụ huynh cần phải vệ sinh tay chân sạch sẽ cho con em mình, tránh để trẻ dụi tay vào mắt, những bé bị bệnh cần được cách ly điều trị tại nhà...", tiếng loa phát thanh trường mầm non Sơn Ca 9 phát liên tục lúc 7h hàng ngày để cảnh báo phụ huynh khi đưa con tới trường.
Tương tự, ở trường Tiểu học Lê Văn Tám (quận Tân Phú), nhiều phụ huynh cũng phải đến đón con đột ngột trong giờ học bởi được xác định là đau mắt đỏ. Thầy Nguyễn Xuân Tùng - Hiệu trưởng trường cho biết, toàn trường đã có gần 100 học sinh phải nghỉ học, nhiều giáo viên cũng phải nghỉ dạy để tránh tình trạng lây lan cho học sinh. 
Không phát loa phóng thanh cảnh báo dịch bệnh như ở các trường mầm non, nhưng trường tiểu học này phát tờ rơi tận tay phụ huynh về cách phòng chống đau mắt đỏ. Học sinh toàn trường cũng được bộ phận y tế nhỏ thuốc phòng ngừa và yêu cầu các em vệ sinh tay chân sạch sẽ, không dụi tay vào mắt. Những em nào cảm thấy bị đau, nhức mắt thì ngay lập tức phải báo cho giáo viên...
Tương tự, ở trường tiểu học Bến Cảng (quận 4), cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Thu Hà cho hay đã phải cho học sinh nghỉ học tới khi nào hết bệnh. Các giáo viên có triệu chứng bị bệnh,  nhà trường yêu cầu phải đeo kính và tránh tiếp xúc ở cự ly gần với học sinh. "Dù chương trình học đầu năm còn khá nhẹ, nhưng để đảm bảo các em theo kịp bạn bè khi quay lại lớp, nhà trường yêu cầu phụ huynh kèm cặp con em mình tại nhà", cô Hà cho biết thêm.
nhat-vy-8984-1380165206.jpg
Mới nhiễm bệnh khi xuất hiện đốm đỏ nhỏ trong mắt, song bé gái lớp 1 phải nghỉ học vì nhà trường lo ngại sẽ lây cho các bạn. Ảnh: Quốc Thắng.
Dịch bệnh ở trường học lây lan về tận nhà khiến nhiều gia đình khốn khổ. Chị Nguyễn Thị Huyền (quận Tân Bình) cho biết, con trai đầu của chị (5 tuổi) bị lây bệnh ở trường học, sau đó cả nhà gồm 6 người cũng bị theo. Hiện 3 đứa trẻ nhà chị Huyền đang phải ở nhà chơi với bà ngoại thay vì đi học như thường ngày. "Hàng ngày các cháu đến trường, vợ chồng tôi yên tâm đi làm. Mấy hôm nay, cả mấy đứa nhà anh chị cũng mắc bệnh ở nhà nên nhờ hết cả vào nhà ngoại. Hôm nào bà không lo nổi, tôi phải nghỉ làm, ở nhà chăm con", chị Huyền kể.
Tình trạng tương tự cũng diễn ra với nhà anh Tâm, quận 11. "Đúng là thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng, khó chịu và đau nhức vô cùng. Tội nhất là con bé gái lây từ thằng anh, quấy khóc suốt", anh Tâm nói.
Trước tình hình bệnh đau mắt đỏ hoành hành ở nhiều trường học, mới đây, Sở giáo dục - Đào tạo TP HCM đã có văn bản hướng dẫn các trường học trên toàn địa bàn thành phố cách phòng chống bệnh và hạn chế tình trạng lây lan.
Theo Phó giám đốc Sở Trần Thị Kim Thanh, khi phát hiện có học sinh nhiễm bệnh tại đơn vị cần phải cách ly ngay, cho trẻ nghỉ học ở nhà điều trị đồng thời phối hợp với cơ quan y tế địa phương xử lý triệt để ổ dịch bằng Cloramin B theo đúng hướng dẫn của ngành Y tế. Vệ sinh môi trường, lau khử khuẩn các vật dụng của trẻ và theo dõi sát học sinh học chung lớp với trẻ bị bệnh.
Đau mắt đỏ, hay còn gọi là bệnh viêm kết mạc, là bệnh gặp phổ biến, xảy ra ở mọi lứa tuổi và thường gia tăng khi thời tiết chuyển mùa. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này do virut Adenovirus.
Các virut này có nhiều trong nước mắt, ghèn, nước bọt… của người bệnh. Trong quá trình dùng chung các dụng cụ cá nhân như ly, tách, khăn mặt… các vi khuẩn này lây lan sang cho người khác một cách nhanh chóng. Đối với người chưa bị bệnh, cần thường xuyên rửa tay chân sạch sẽ, súc miệng nước muối thường xuyên; tránh đến những nơi đông người, đặc biệt là nguồn dịch; không dùng chung đồ, dụng cụ với người bệnh, uống thật nhiều nước để cơ thể có thể thải được độc tố trong cơ thể; khi đi ra ngoài, cần đeo kính chắn bụi, chắn virut.
Đối với người bệnh, cần rửa mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý, đồng thời tới ngay bệnh viện để được bác sĩ thăm khám và cho thuốc. Trước khi vệ sinh mắt, cần vệ sinh tay chân thật sạch sẽ, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng diệt khuẩn có tác dụng tốt hạn chế virut đau mắt đỏ cho người khác. Nghỉ ngơi, hạn chế giao tiếp để tránh lây lan cho người khác. Với trẻ nhỏ, cần cho nghỉ ngơi ở nhà, tránh đến những khu vực đông người như nhà trẻ, trường học để tránh lây bệnh.

BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ

Bệnh đau mắt đỏ và cách phòng chống  
Theo thông báo, hiện nay bệnh đau mắt đỏ đang có chiều hướng gia tăng ở nhiều tỉnh trong cả nước. Tại Hải Dương bệnh đau mắt đỏ cũng đang xuất hiện và có xu hướng lây lan ở nhiều nơi, tăng dần vào tháng 7 - 8. Trung bình mỗi ngày,  Phòng khám mắt TTPCBXH Hải Dương có từ 15-20 bệnh nhân đau mắt đỏ đến khám ( tỷ lệ tăng hơn các tháng khác trong năm 2 -3 lần), nhiều trường hợp cả gia đình đều bị bệnh, gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và công tác. Để phòng và điều trị bệnh đau mắt đỏ cho bản thân, gia đình và cộng đồng mỗi người dân cần  nắm được những thông tin  sau:
Đau mắt đỏ là một danh từ dân gian quen dùng để chỉ bệnh Viêm kết mạc cấp (KM cấp), bệnh có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chỉ có nguyên do Adenovirus là dễ lây lan và có thể  gây thành dịch. Bệnh có thể mắc ở mọi lứa tuổi, xuất hiện rải rác quanh năm ở mọi nơi, tăng lên vào mùa hè thu; khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều nhất là những nơi úng lụt, thời gian ủ bệnh ngắn 12 -24 h.
· Triệu chứng:
- Mắt đau rầm rộ, cộm, cảm giác như cát trong mắt
- Chảy nước mắt và có nhiều rỉ, có khi sáng ngủ dậy rỉ làm mi mắt dính chặt
- Mi mắt sưng nhẹ, hơi đau, kết mạc sưng phù, đỏ. Bệnh thường bắt đầu từ một mắt, sau vài ba ngày đến mắt thứ hai…       
- Kèm theo có thể ho, sốt nhẹ , nổi hạch trước tai ( hay gặp ở trẻ em),
- Thị lực hầu như không ảnh hưởng
· Diễn biến
- Các triệu chứng trên thường rầm rộ  khoảng 3 ngày đầu sau giảm dần, thoái lui sau khoảng 10 ngày, đại đa số lành tính, ít để lại di chứng.
 - Một số ít có thể có giả mạc ở kết mạc mi (mắt thường sưng khó mở, có  dịch màu hồng...) đau kéo dài có khi hàng tháng nếu không được bóc giả mạc
 - Một số có thể có biến chứng Viêm giác mạc chấm khi đó sẽ có ảnh hưởng
đến thị lực.
- VKM trên người bệnh có các bệnh mạn tính khác về mắt như: mắt hột, sẹo giác mạc cũ, tắc lệ đạo...sẽ làm cho bệnh tiến triển nặng thêm;
· Dịch tễ bệnh:
- Bệnh thường xảy ra vào mùa hè,  đặc biệt  vào mùa  mưa lụt, Virus có từ người bệnh, nguồn  nước ô nhiễm lây lan sang người khác thông qua vật dụng dùng chung, ruồi, tiếp xúc qua tay , đường hô hấp. Thời gian ủ bệnh ngắn 12 -24 h
· Phòng bệnh khi chưa có dịch:
-Bệnh rất dễ mắc, dễ lây cho cả nhà và cộng đồng vì vậy cần phải:
 Thường xuyên rửa mặt 3 lần/ ngày bằng nước sạch, khăn sạch, riêng, tốt
nhất giặt khăn bằng xà phòng , phơi khăn ngoài nắng, giữ vệ sinh môi trường
· Khi đang có dịch:
- Người bệnh cần được nghỉ ngơi, điều trị cách ly, dùng thuốc theo đơn của
thầy thuốc nhãn khoa, thông thường dùng Chloroxit 0,4% ( hoặc Natriclorua 0,9% nhỏ mắt nhiều lần/ ngày. thuốc mỡ  Tetraxyclin 1% tra mắt 2 lần/ ngày. Nếu bệnh không thuyên giảm sau 5 - 7 ngày phải đến khám BS nhãn khoa (tốt nhất là đến ngay khi có các triệu chứng đầu tiên)
- Người chưa mắc bệnh cần hạn chế tối đa tiếp xúc với người bệnh, khi tiếp xúc nên có khẩu trang 
- Trong vùng có dịch ( hoặc có nhiều người mắc bệnh) nên hạn chế các hoạt động tập trung đông người
- Không nên đến các bể bơi công cộng.
Nói chung đau mắt đỏ tuy là một bệnh cấp tính, triệu chứng rầm rộ, dễ lây nhưng thường lành tính ít để lại di chứng, tuy nhiên bệnh thường gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, học tập và lao động, có không ít trường hợp bệnh kéo dài và có biến chứng xấu ảnh hưởng thị lực sau này nên mọi người luôn có ý thức phòng bệnh tốt và cần được can thiệp kịp thời khi bị mắc bệnh ./.  

Trích nguồn: http://soyte.haiduong.gov.vn/ThongTinChuyenNganh/Pages/%C3%A1df.aspx